Tài liệu quản lý moving to http://tailieuquanly.com

Trang thông tin và download về các tài liệu quản lý kinh doanh.

Các nguyên tắc cơ bản kế toán – DOANH NGHIỆP VÀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Posted by nqcentre on April 7, 2012

DOANH NGHIỆP VÀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG1. Doanh nghiệp1.1. Doanh nghiệp là gì?Doanh nghiệp là một tổ chức (đơn vị) sử dụng các phương tiện để sản xuất các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ bán trên thị trường.Như vậy:·  Mỗi doanh nghiệp sẽ có một sản nghiệp. Sản nghiệp của một pháp nhân (hay thể nhân) là hiệu số giữa tài sản mà họ đang sở hữu với các khoản nợ phải trả. Sản nghiệp có thể dương, bằng không hoặc âm.

SẢN NGHIỆP = TÀI SẢN – NỢ PHẢI TRẢ

·  Mỗi doanh nghiệp, sau một thời kỳ hoạt động, sẽ có một kết quả nhất định. Kết quả (thu nhập) của một doanh nghiệp là hiệu số giữa Doanh thu và Chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ.

KẾT QUẢ = DOANH THU – CHI PHÍ

Kết quả của một doanh nghiệp cũng có thể dương (có lãi), âm (lỗ) hoặc bằng không (hòa vốn).Chỉ khi hoạt động có lãi thì mới đạt mục tiêu sinh lợi của doanh nghiệp.1.2. Hoạt động của doanh nghiệpMỗi doanh nghiệp là một trung tâm trao đổi các dòng vật chất và tiền tệ.a. Dòng vật chất (và coi như vật chất): phát sinh trong quá trình cung cấp sản phẩm, hàng hóa, lao vụ, dịch vụ giữa doanh nghiệp với các tổ chức, đơn vị, cá nhân bên ngoài doanh nghiệp.b. Dòng tiền (còn gọi là dòng tài chính): Có chiều ngược với dòng vật chất, nhằm thanh toán cho dòng vật chất.HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP2. Kế toán doanh nghiệp2.1. Khái niệm kế toán: Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán:– Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại và tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền các nghiệp vụ và các sự kiện ít nhiều có tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó (định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế – International Federation of Accountants – AFAC).Như vậy, kế toán được nhấn mạnh như một nghệ thuật hơn là một khoa học. Dù kế toán có tính khoa học nhưng nó phụ thuộc rất nhiều vào người thực hiện nó.– Kế toán là “ngôn ngữ” của kinh doanh hay một phương tiện để thực hiện công việc kinh doanh.2.2. Mục đích của kế toán doanh nghiệpCung cấp các thông tin hữu ích cho việc đề ra các quyết định về kinh tế và để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.MỤC ĐÍCH, CHỨC NĂNG CỦA KẾ TOÁN2.3. Người sử dụng thông tin: a. Các nhà quản lý doanh nghiệp: Sử dụng thông tin kế toán để lập các mục tiêu cho doanh nghiệp, đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu đó, ra các quyết định, điều chỉnh các hoạt động sao cho có hiệu quả nhất.Thông tin kế toán giúp các nhà quản lý trả lời các câu hỏi:·  Tiềm lực (tài sản) của doanh nghiệp như thế nào? ·  Công nợ của doanh nghiệp ra sao? ·  Doanh nghiệp làm ăn có lãi không, lãi là bao nhiêu? ·  Hàng hóa tồn kho quá nhiều hay ít? ·  Khả năng thu hồi các khoản nợ như thế nào? ·  Doanh nghiệp có khả năng trả nợ hay không? ·  Có thể mở rộng quy mô hay giới thiệu thêm sản phẩm mới? ·  Giá thành sản xuất như thế nào, có thể tăng (hoặc giảm giá bán không)? ·  v…v. b. Các ông chủ: Những người sở hữu doanh nghiệp (Chính phủ, hội đồng quản trị, các cổ đông,….) sử dụng thông tin kế toán để kiểm soát kinh doanh, phân phối lợi nhuận và thu thuế.c. Bên thứ ba: (ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, người bán, người mua, nhân viên, các nhà đầu tư tiềm năng,….) sử dụng thông tin kế toán để ra các quyết định kinh tế trong mỗi quan hệ với doanh nghiệp. NHỮNG NGƯỜI SỬ DỤNG THÔNG TIN KẾ TOÁN2.4. Phân biệt ghi chép kế toán và kế toán:Công việc kế toán bao gồm:1.                       Tập hợp thông tin tài chính 2.                       Phân tích các thông tin tài chính này để xác định những thông tin nào là phù hợp cho các quyết định cá biệt 3.                       Trình bày (báo cáo) các thông tin phù hợp này theo những hình thức có ý nghĩa cho người sử dụng 4.                       Trợ giúp và tư vấn cho người sử dụng hiểu được các thông tin và sử dụng chúng vào quá trình đưa ra quyết định. Ghi sổ kế toán chỉ bao gồm giai đoạn 1.2.5. Kế toán tài chính và kế toán quản trị: Kế toán doanh nghiệp được phân biệt thành kế toán tài chính và kế toán quản trị2.5.1. Kế toán tài chính (Financial Accounting):– Bộ phận kế toán phản ánh toàn bộ tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình mua bán, chi phí, thu nhập, công nợ và tính kết quả ở dạng tổng quát của doanh nghiệp. Số liệu của kế toán tài chính dùng để lập bảng cân đối kế toán và các báo cáo tài chính khác. Thông tin của kế toán tài chính cung cấp cho những người ngoài doanh nghiệp.– Chức năng và giới hạn của kế toán tài chính:·  Theo dõi có hệ thống tình hình hiện có và sự biến động của các tài sản, vốn hình thành tài sản, tổng số chi phí và thu nhập trong toàn doanh nghiệp, sự tạo ra và phân phối kết quả sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ. ·  Theo dõi và cung cấp thông tin về tình hình tài sản, tình hình mua bán và các khoản nợ của doanh nghiệp: các số liệu để lập bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. ·  Cung cấp thông tin cho việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp.v…v. ·  Là đối tượng của các hoạt động kiểm tra – Thông tin của kế toán tài chính phục vụ cho các đối tượng:1.                       Những người sở hữu doanh nghiệp: giúp cho họ vẫn giữ hay từ bỏ quyền sở hữu. 2.                       Các nhà cung cấp tín dụng của doanh nghiệp: giúp họ quyết định nên hay không tiếp tục mở rộng quan hệ tín dụng (để doanh nghiệp trả chậm trong thu mua hàng hóa, dịch vụ hoặc vay vốn). 3.                       Các cơ quan Nhà nước nhằm giúp họ xem xét hoặc đánh thuế thu nhập và kiểm tra xem doanh nghiệp có tuân thủ theo những quy tắc luật lệ của Chính phủ không? 4.                       Nhân viên và tổ chức công đoàn: để giúp họ trao đổi (bàn bạc và thỏa thuận) về những hợp đồng lao động hoặc để thay đổi hợp đồng thu nhận nhân công. 5.                       Khách hàng của công ty: nhằm giúp họ xác định mối quan hệ với công ty và quyết định về những mối quan hệ trong tương lai. 6.                       Những nhà đầu tư, các cổ đông…. Thông tin trong các báo cáo tài chính được trình bày theo cùng một kiểu qua các năm, điều này giúp cho người sử dụng có thể tin cậy vào các báo cáo.2.5.2. Kế toán quản trị (Management Accounting)– Là bộ phận kế toán phản ảnh tình hình chi phí, doanh thu thu nhập và tính kết quả của từng loại hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giá phí, giá thành của từng sản phẩm, từng khâu sản xuất và từng dịch vụ. Kế toán quản trị cung cấp thông tin cho nhu cầu quản lý của doanh nghiệp.– Chức năng và giới hạn của kế toán quản trị: Kế toán quản trị có chức năng cung cấp thông tin cho việc quản lý và kiểm tra quá trình sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp.– Đối tượng của kế toán quản trị là lĩnh vực chi phí, đó là:·  Loại chi phí và tình trạng chi phí ·  Sự phân biệt chi phí theo thời gian, doanh thu có liên quan đến chi phí và kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm, dịch vụ. ·  Giá phí, giá thành của từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. ·  Thiết lập được các khoản dự toán chi phí và kết quả kiểm soát việc thực hiện. ·  Giải thích được các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phí dự toán và chi phí thực tế. ·  Kiểm tra thường xuyên chi phí đã chi ra cho quá trình sản xuất và các hoạt động khác ·  Kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp từ giác độ trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp. ·  Cung cấp số liệu thông tin phục vụ cho việc đưa ra quyết định. ·  Cùng với kế toán tài chính làm sáng tỏ mối quan hệ cuối cùng ·  v…v. HỆ THỐNG THÔNG TIN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ – Công cụ của kế toán quản trị, các khái niệm chi phí1.                       Công cụ 1: Kết cấu thông tin của kế toán quản trị: đó là khả năng thiết kế và sắp xếp thông tin sao cho hữu ích đối với quá trình ra quyết định, sự xắp sếp đó hoặc kết cấu đó được thiết kế để so sánh số liệu thực tế với định mức (thiết kế kết cấu theo khoản mục để so sánh với thực tế – dự toán định mức) trong quá trình phát triển các định mức và mục tiêu đối với doanh nghiệp các tiêu chuẩn phải lập cho các bộ phận hoạt động ở mức độ thấp đến mức độ cao. 2.                       Công cụ 2: Phân loại chi phí. Có vị trí quan trọng trong quản lý: Bất biến và khả biến 3.                       Công cụ 3: Trình bày số liệu dưới dạng phương trình 4.                       Công cụ 4: Trình bày thông tin dưới dạng đồ thị 2.5.3. Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị: a) Sự khác nhau:– Kế toán tài chính phải tôn trọng những quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt những yêu cầu về quản lý tài chính và những yêu cầu của xã hội thông qua nghĩa vụ công bố, những số liệu cần thiết nhất định, những quy định có tính pháp lý của nghề kế toán, đó là phương pháp kế toán đã được thừa nhận (GAAP), nhất là các báo cáo tài chính.– Kế toán quản trị phải tôn trọng các yêu cầu về mặt kỹ thuật, tính kinh tế, các yêu cầu quản lý nội bộ và những điều kiện cá biệt của doanh nghiệp cũng như cơ cấu nội bộ xí nghiệp, đồng thời phải tôn trọng những yêu cầu về phương pháp và những quy định được đặt ra ở kế toán tài chính.– Các số liệu của kế toán tài chính được công bố cho người sử dụng thông tin ở bên ngoài doanh nghiệp.– Số liệu của kế toán quản trị được sử dụng nội bộ là thông tin không công bố.– Kế toán quản trị không phản ánh những chi phí thuộc nghiệp vụ tài chính và các chi phí không tiêu dùng cho sản xuất, ngược lại, những khoản chi phí này lại được phản ánh ở kế toán tài chính.– Ngoài những khoản chi phí đặc biệt ra, kế toán tài chính chỉ phản ánh những chi phí đầu vào quá trình sản xuất (chi phí theo yếu tố), ngược lại, kế toán quản trị phản ánh chi phí liên quan đến kết quả (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ) được tạo ra trong kỳ kế toán ( Bao gồm cả chi phí thực tế chi ra và các khoản chi phí trích trước mà chưa chi).– Kế toán tài chính phản ánh doanh thu sản xuất – kinh doanh và thu nhập ngoài sản xuất kinh doanh, kế toán quản trị chỉ phản ánh doanh thu sản xuất kinh doanh.– Kế toán quản trị đặt trọng tâm cho tương lai nhiều hơn.– Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự thích hợp và sự linh động của các dữ kiện.– Kế toán quản trị xuất phát từ nhiều ngành khác nhau.– Kế toán quản trị chú trọng đến các bộ phận của một tổ chức hơn là xem xét toàn bộ doanh nghiệp.– Thời gian lập báo cáo cũng khác nhau.CÁC LOẠI THÔNG TIN KẾ TOÁNĐẶC ĐIỂM b) Sự giống nhau (mối quan hệ):1.                       Cả hai loại đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin của chúng, đều xuất phát trên cơ sở chứng từ gốc. Một bên phản ánh tổng quát các khoản chi phí thu nhập, một bên phản ánh chi tiết, tỉ mỉ thông tin tổng quát đó. 2.                       Cả hai đều có quan hệ mật thiết với thông tin kế toán. Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi các số liệu ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính, mặc dù nó có khai triển và tăng thêm số liệu và bản chất thông tin. Cả hai loại kế toán tài chính và quản trị đều có khái niệm trách nhiệm và quản lý. Kế toán tài chính liên hệ với khái niệm quản lý trên toàn doanh nghiệp, kế toán quản trị quản lý trên từng bộ phận cho đến người cuối cùng của tổ chức và có trách nhiệm với các chi phí. Trong thực tế, với cái nhìn của một người có trách nhiệm, kế toán tài chính có thể xem là cái đỉnh, còn kế toán quản trị sẽ làm đầy hết phần đáy tam giác ở phần dưới.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: