Tài liệu quản lý moving to http://tailieuquanly.com

Trang thông tin và download về các tài liệu quản lý kinh doanh.

Wal-Mart – Đế chế bán lẻ: Kỳ 4 – Kiểm soát lạm phát

Posted by nqcentre on March 23, 2012

Wal-Mart – Đế chế bán lẻ: Kỳ 4 – Kiểm soát lạm phát
Cập nhật ngày: 18/10/2007

Kỳ 4: Kiểm soát lạm phát

[SGTT] – Một sai lầm đáng kể và có tính hệ thống của chính phủ Mỹ trong khi đưa ra những chỉ số lạm phát cho thấy quyền lực giấu mặt phi thường của Wal-Mart trong toàn bộ nền kinh tế. Wal-Mart không những đã giúp kiềm chế lạm phát mà còn giữ cho tỷ lệ lạm phát thấp hơn 15% nhưng không ai biết

Làm sao một trong những thống kê kinh tế cốt lõi nhất của chính phủ liên bang lại sai sót đến 15%? Vì Wal-Mart!

Wal-Mart là một yếu tố giấu mặt góp phần vào giảm lạm phát ở Mỹ. Hàng tuần, hơn 100 triệu người Mỹ mua sắm ở Wal-Mart – 1/3 dân số. Mỗi năm 93% hộ gia đình Mỹ mua sắm ở Wal-Mart ít nhất 1 lần. Trong ảnh là nông sản tại chợ Mỹ – nhiều trong số 211 mặt hàng nằm trong rổ tính CPI của Cục Thống kê lao động Mỹ

Những hạn chế của CPI

Nghiên cứu của Jerry Hausman ở Học viện MIT và Ephraim Leibtag ở Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) sẽ giúp ta hiểu điều này. Những người làm việc ở Cục Thống kê lao động Mỹ (BLS) ghi nhận mỗi tháng 8.000 đơn giá bán lẻ (mặc dù không phải là 8.000 món hàng – nhiều đơn giá trên cùng những món hàng giống nhau ở khắp đất nước). Chỉ số CPI bao gồm 211 chủng loại hàng từ trái cây đến xe hơi đến cháo ăn liền buổi sáng. Thực ra chuối là một mặt hàng dễ tính toán, ít ra là cho đến khi anh cân nhắc tới Wal-Mart. Một khi đã đi xa hơn những quả chuối thì mọi chuyện sẽ phức tạp lên rất nhanh. Sau đây là vài ví dụ:

Một hộp cháo ngũ cốc ăn liền Rice Kripies tháng này nặng khoảng 3 lạng với giá bán 2,79 USD. Tháng sau, nó vẫn bán giá đó nhưng lại nặng 3,5 lạng. Ô! Giá đã giảm rồi. Hộp cháo Rice Krispies vẫn bán giá cũ nhưng nó tăng lượng sản phẩm thêm 18%.

Tháng này, hãng viễn thông Sprint cung ứng dịch vụ chuyển tất cả các khách hàng điện thoại đường dài từ dịch vụ cũ 5 xu/phút sang dịch vụ mới 18 USD/tháng gọi thoải mái. Ai hay, điện thoại đường dài nhiều hơn 6 giờ mỗi tháng sẽ có hoá đơn thanh toán giá thấp hơn; bất kỳ ai nói đường dài ít hơn 6 giờ mỗi tháng sẽ phải thanh toán giá cao hơn trước.

Nhưng thực tế cách so sánh này không công bằng: dịch vụ 18 USD/tháng gọi đường dài thoải mái không cùng một loại sản phẩm với dịch vụ 5 xu/phút đường dài nữa. Thay đổi giá quả tình đã làm thay đổi luôn chính bản thân sản phẩm bởi vì giá mới sẽ làm thay đổi luôn hành vi tiêu dùng.

Nghiên cứu của Hausman và Leibtag kết luận: khi chính phủ Mỹ bỏ qua “hệ số” Wal-Mart khi tính chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ lạm phát mỗi năm đã bị thổi phồng lên 15%. Một kết luận đầy kịch tính vì với mọi con mắt theo dõi sát sao, chỉ một nhúc nhích nhỏ của tỷ lệ lạm phát cũng đủ gây sức ép các thị trường và Cục Dự trữ liên bang Mỹ

Một chiếc xe hơi Nhật mới tinh đời 2006 bán bằng giá với chiếc xe đời 2005. Nhưng chiếc xe đời mới có thêm túi khí an toàn chống va đập ở bên hông mà trước kia không bao giờ có. Chiếc xe đã trở nên “rẻ hơn” bởi vì cùng một số tiền đó ta có thể mua chiếc xe có nhiều tính năng hơn. Đó là việc nâng cao chất lượng.

Làm sao đưa hết các yếu tố đó vào chỉ số CPI được?

“Hệ số” Wal-Mart

Đối với các nhà kinh tế thì chỉ số CPI, các siêu thị Wal-Mart không phải là các cửa hàng thực phẩm truyền thống. Khi các siêu thị này lan rộng trong các cộng đồng khắp nước Mỹ thì chúng là những địa điểm bổ sung cho các chuyên viên CPI thu thập thông tin về giá cả. Thực tế, các siêu thị Wal-Mart đã được thay thế cho các chuỗi cửa hàng khác để cho sự pha trộn thị trường giữa Wal-Mart và các siêu thị cạnh tranh vẫn được cân bằng ở từng thành phố.

Nhưng các chuyên viên CPI đã không đếm xỉa đến giá bán thấp hơn tại Wal-Mart ngay thời điểm thay thế. Một hộp cháo ăn liền Rice Krispies bán ở Kroger giá 3,79 USD; cũng chính hộp cháo đó bán ở Wal-Mart giá 2,99 USD. Nhưng khoảng chênh lệch giá 80% này bị phớt lờ đi. Chuyên viên CPI cho rằng sự khác biệt về giá bán là do kinh nghiệm mua sắm và dịch vụ ở Wal-Mart kém chất lượng hơn chứ không phải là do mặt hàng Rice Krispies thật sự rẻ hơn.

Nghiên cứu của Hausman và Leibtag không hề che giấu sự khinh miệt dành cho phương pháp tính toán đó. Họ đề xuất một cách tiếp cận khác đối với Wal-Mart và đối với các siêu thị đủ loại, và một quy trình tính toán mới có thể giải thích được chứ không phải thay thế sự lựa chọn của người tiêu dùng. Quy trình này sẽ cân nhắc cả sự chênh lệch giá ban đầu, cùng với bất kỳ thay đổi nào trong giá cả sau khi Wal-Mart tung các siêu thị vào các thành phố mới. Và họ đã bỏ công phu tính toán được chỉ số CPI chính thức đã sai lệch bao nhiêu so với thực tế trong thời gian từ 1998 đến 2001.

Nghiên cứu của họ không chỉ xem xét giá ở Wal-Mart mà còn ở các siêu thị khác và các siêu thị bán sỉ. Trong 20 chủng loại hàng thực phẩm đã xem xét, họ phát hiện ra rằng giá bán ở các siêu thị trung bình thấp hơn 27% so với các cửa hàng thực phẩm truyền thống – một khoảng giảm giá đáng kinh ngạc. Giống như, cứ mỗi tháng lại được một tuần mua thực phẩm miễn phí, chỉ cần chuyển sang mua sắm ở Wal-Mart.

Còn đây mới là điều sửng sốt thực sự: nghiên cứu của Hasuman và Leibtag chỉ xem xét cái gọi là chỉ số CPI cho “thực phẩm tại gia”, tức là, các hàng hoá thực phẩm được chế biến và tiêu thụ trong gia đình, hàng tạp phẩm. Nhưng Cục Thống kê lao động Mỹ lại còn sử dụng chính xác một quy trình đó cho mọi sản phẩm mà Wal-Mart bán – không chỉ là thực phẩm. Toàn bộ tỷ lệ lạm phát của nước Mỹ đã không biết là Wal-Mart tồn tại. Và như vậy Wal-Mart đã giữ cho tỷ lệ lạm phát còn thấp hơn 15% .

(Kỳ 5: Sự thành công tàn phá)

Lạm phát thực tế

Từ 1998 đến 2001, lạm phát ở Mỹ khá bình ổn. Một món hàng giá 10 USD năm 1998 chỉ tăng lên 10,87 USD năm 2001. Với thực phẩm, lạm phát trong ba năm ấy còn khiêm tốn hơn nữa. Một món hàng thực phẩm giá 10 USD năm 1998 sẽ lên giá 10,77 USD năm 2001. Tỷ lệ lạm phát của thực phẩm là 2,5%, còn với mọi ngành hàng khác thì cao hơn một chút, 2,8%. Những con số ấy là của chính phủ Mỹ, từ chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index – CPI) công bố hàng tháng và luôn được tin cậy, theo dõi kỹ.

Nhưng dù lạm phát trong những năm đó khiêm tốn như thế, tỷ lệ này có thể đã được nói quá lên 15% mỗi năm. Chỉ 15% của 2,5% dường như chẳng là gì – nó giảm tỷ lệ lạm phát của giá thực phẩm xuống còn 2,125% mỗi năm. Một món hàng thực phẩm giá 10 USD năm 1998 thực tế sẽ chỉ tăng giá lên 10,65 USD năm 2001, hay ít hơn 12 xu. Nhưng 12 xu ấy phình ra rất nhanh đối với một nước rộng lớn như Mỹ. Nếu một gia đình tiêu 100 USD/tuần cho thực phẩm, đó sẽ là 5.200 USD/năm. Con số lạm phát chính thức, ba năm sau đó, sẽ khiến ta tin rằng gia đình này sẽ chi tiêu 61,24 USD nhiều hơn cho thực phẩm mỗi năm so với thực tế. Với 108 triệu hộ gia đình của năm 2001, phép tính sai lầm ấy sẽ nảy sinh ra 6,6 tỉ USD mà ai đó tưởng rằng ta đang tiêu pha cho những món hàng thực phẩm đã được điều chỉnh giá theo lạm phát nhưng thực tế ta đã không tiêu tốn tới mức đó. Và đó chỉ mới là hàng thực phẩm mà thôi.

Theo SGTT

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: