Tài liệu quản lý moving to http://tailieuquanly.com

Trang thông tin và download về các tài liệu quản lý kinh doanh.

Câu chuyện về đế chế bán lẻ Wal-Mart (Kỳ 1) – kỷ lục bành trướng

Posted by nqcentre on March 19, 2012

Câu chuyện về đế chế bán lẻ Wal-Mart (Kỳ 1)

(Cập nhật: 10/8/2007 2:06:46 PM)

Trong một ngày điển hình của thời sự báo chí thôi, cái tên W-M được nhấn mạnh trong hơn 100 tin bài trên khắp nước Mỹ

Khó mà hấp thu được cái quy mô của Wal-Mart. Công ty này không chỉ là nhà bán lẻ lớn nhất nước Mỹ và toàn cầu, mà hơn nửa thập niên qua, Wal-Mart vừa là công ty lớn nhất thế giới vừa là công ty lớn nhất lịch sử thế giới.
KỲ 1: kỷ lục bành trướng

Không có đối thủ

Đầu thập niên 1990, Wal-Mart (W-M) bắt đầu thử nghiệm bán hàng tạp hoá – thực phẩm bên cạnh các loại hàng hoá phổ thông theo một hình thức mà W-M gọi là “đại siêu thị” (supercenter). Khi W-M lần đầu tiên chen chân vào ngành kinh doanh tạp hoá, ngành này đã bị ngự trị bởi những chuỗi siêu thị toàn quốc được điều hành tốt, kinh nghiệm dày dạn, thiết lập lâu năm. Tập đoàn siêu thị Abertons ra đời năm 1939. Safeway ra đời năm 1915. Kroger thành lập năm 1883. Giữa cái nhóm quen thuộc ấy, 15 năm trước W-M đã xía chân vào. Đến cuối năm 1990 W-M chỉ có 9 siêu thị.

» Vào website của Wal-Mart

Mười năm sau, đến cuối năm 2000, W-M có 888 siêu thị – trung bình mỗi tháng W-M khai trương 7 siêu thị mới, liên tục 120 tháng liền – và trở thành nhà bán lẻ thực phẩm số 1 nước Mỹ. Ngày nay W-M bán hàng thực phẩm nhiều hơn bất kỳ công ty nào không chỉ trong nước Mỹ và khắp thế giới; nó có 1906 siêu thị, nhiều hơn 5 năm trước 1.000 cái. Tức là, trong 5 năm qua, sau khi chinh phục được ngành kinh doanh siêu thị, W-M đã tăng tốc độ xâm lăng hàng thực phẩm; trung bình mỗi tháng có 16 siêu thị mới khai trương.

Dù là thực phẩm hay trong các lãnh vực bán lẻ khác, W-M không chỉ là hạng nhất trong số các tập đoàn tương tự, nó không có đối thủ. W-M bây giờ lại bán thực phẩm nhiều hơn cả Kroger và Safeway cộng lại. Khắp nước Mỹ, W-M chiếm giữ khoảng 16% thị trường thực phẩm. Tuy nhiên, trong nhiều thành phố đơn lẻ, W-M lại chiếm tới 25 hay 30% thị trường – cứ 3 hay 4 gia đình thì có một gia đình mua thực phẩm ở W-M.

Càn quét và thôn tính

Là một tập đoàn bán lẻ, W-M không chỉ lớn nhất, nó không còn bất kỳ đối thủ nào có thể sánh được. W-M lớn bằng cả Home Depot, Kroger, Sears, Target, Costco và Kmart cộng lại. Target, vốn được xem là đối thủ trực tiếp gần kề nhất và là kẻ cạnh tranh tinh ranh nhất của W-M, cũng chỉ là hạng “tép riu” nếu so sánh. Mỗi năm, chỉ trong ngày lễ Thánh Patrick 17 tháng 3 thôi, W-M đã bán còn nhiều hơn một năm doanh thu của Target. Trong 2 năm vừa qua, phần doanh thu tăng thêm của W-M còn lớn hơn tổng doanh thu của Target.

Sears và Kmart lụn bại vì sự cạnh tranh hiệu quả của W-M. Việc sáp nhập hai tập đoàn này chỉ là sự bấu víu tuyệt vọng để sinh tồn trước năng lực tàn khốc của W-M. Tuy nhiên, Sears và Kmart hợp lại bây giờ cũng chỉ bằng quy mô của W-M năm 1993 – 1/5 tầm cỡ của W-M hiện thời.

Toy “R” Us – công ty đã phát minh ra kiểu cửa hàng “độc quyền kiểm soát” (category killer) từ thời 1950 và làm biến đổi hẳn cách buôn bán mặt hàng đồ chơi ở Mỹ – cũng xanh xao trong cuộc đua với W-M. Từ 1998, W-M tại Mỹ đã bán ra nhiều đồ chơi hơn cả Toy “R” Us. Người ta chờ đợi Toy “R” Us sẽ co rút thêm chứ không giành lại nổi khách hàng đồ chơi từ tay W-M.

Winn-Dixie – chuỗi cửa hàng tạp hoá trị giá 11 tỉ USD – buộc phải phá sản năm 2005 vì không cạnh tranh nổi với W-M. Công ty này đóng cửa 1/3 trong tổng số 920 cửa hàng của mình và sa thải 22.000 nhân viên. Trong cùng thập niên mà W-M dần thống lĩnh doanh nghiệp thực phẩm ở Mỹ, 31 chuỗi siêu thị đã phải tuyên bố phá sản; 21 trong số đó nêu lý do là W-M cạnh tranh.

Procter & Gambler và Gillette – hai công ty sản phẩm tiêu dùng nhiều sáng kiến và ổn định nhất thế giới – chấp thuận một cuộc sáp nhập khiến P&G tốn 57 tỉ USD để hợp thành một công ty duy nhất bán đủ thứ từ pin Duracell tới băng vệ sinh Tampax, từ khoai tây chiên Pringles tới bàn chải răng Oral-B. Cộng chung lại, hai công ty này có 21 nhãn hiệu sản phẩm, mỗi nhãn hiệu có doanh số 1 tỉ USD hoặc hơn. Cuộc sáp nhập ấy phần nào được thúc đẩy bởi nhu cầu của các công ty muốn duy trì quy mô để đối ứng W-M. Công ty kết hợp này sẽ có doanh thu 68 tỉ USD một năm, trong đó ít nhất 10 tỉ USD là thu từ W-M – chiếm 15% kinh doanh.

Nằm sâu trong các hồ sơ tài chánh trình cho chính phủ Mỹ, P&G báo cáo rằng trước khi sáp nhập, W-M đã chiếm 16% doanh số của công ty. Các báo cáo P&G cũng cho biết 10 công ty bán lẻ hàng đầu mua hàng của P&G đã chiếm tới 32% doanh số. Điều đó có nghĩa là W-M không những là khách hàng đứng đầu Top 10 của P&G – nó lớn bằng cả 9 khách hàng kia cộng chung lại. Cho nên câu hỏi thực sự thú vị là: Việc P&G mua lại Gillette là để công ty này có thêm sức ảnh hướng đối với W-M – hay là cho Wal-Mart có thêm sức chi phối với một P&G lớn hơn?

Chỉ số trọng yếu của nền kinh tế

Wal-Mart hiện thời có khoảng 4.000 siêu thị và cửa hàng trong nước Mỹ (bao gồm 10 ở Alaska và 9 ở Hawaii); tức là cứ mỗi hạt trên đất nước này lại có nhiều hơn 1 cửa hàng W-M. Hàng tuần, hơn 100 triệu người Mỹ mua sắm ở W-M – 1/3 dân số. Mỗi năm 93% hộ gia đình Mỹ mua sắm ở W-M ít nhất một lần. Và không chỉ nước Mỹ, W-M là nhà bán lẻ lớn nhất ở cả Mexico lẫn Canada, và nhà bán tạp phẩm lớn thứ nhì ở Anh. Khắp thế giới, nhiều người mua sắm ở W-M đến mức năm nay sẽ có 7,2 tỉ người ghé vào một cửa hàng W-M nào đó.

Tháng 1.2005, hãng tin Bloomberg News có tường thuật về viễn cảnh của mặt hàng kim loại nickel trong các thị trường hàng hoá London. “nickel, mặt hàng có mức gia tăng tốt nhất trong thị trường kim loại London từ 2003, có thể lần đầu tiên sau 4 năm sẽ mất giá khi các khách hàng như W-M Stores Inc. và International Ikea sử dụng các nguyên liệu thay thế rẻ tiền hơn trong đủ loại sản phẩm từ bàn uống cà phê cho tới bàn làm việc và gương soi”. Giá nickel tăng vọt khiến W-M phải nhòm ngó tới các loại đồ đạc nội thất sử dụng loại thép không rỉ rẻ tiền hơn có chứa ít hay không có chất liệu nickel. Hệ quả: toàn thế giới giảm bớt nhu cầu nguyên liệu nickel, toàn thế giới giảm giá nickel. Và cả trên thị trường kim loại London nữa. Giá nickel tăng 25% trong 5 tháng đầu năm 2005. Nhưng trong nửa sau 2005, giá nickel đảo ngược, tụt xuống hơn 30% tính đến tháng 10.

Trong một ngày điển hình của thời sự báo chí thôi, cái tên W-M được nhấn mạnh trong hơn 100 tin bài trên khắp nước Mỹ. Mỗi tháng, nội bản thông báo doanh số của W-M cũng đủ thành đề tài tường thuật liên tục suốt 24 giờ liền. Còn nhiều hơn nữa nếu như W-M làm ăn trồi sụt, bởi vì hiệu quả kinh doanh của W-M được xem là một chỉ số trọng yếu của các xu thế kinh tế Mỹ nói chung. Hiếm có ngày nào mà tờ Wall Street Journal lại không có một tin bài gì đó nhắc đến W-M; phần lớn mọi ngày cái tên công ty này luôn được nêu ra nhiều lần.

Chưa từng có doanh nghiệp nào có được địa vị thống trị của W-M, không chỉ bao trùm cả hệ thống kinh tế tiêu dùng mà cả nền kinh tế nói chung.

———————–

(*) Trích lược từ cuốn “Wal-Mart Effect” (Hiệu ứng Wal-Mart) của nhà báo kinh tế Charles Fishman, bản dịch của Trần Ngọc Đăng với lời tựa đặc biệt cho bản tiếng Việt của chính tác giả. Công ty Văn hoá Thời Đại xuất bản tháng 10.2007.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: